Tiếng Việt English Trang chủ Giới thiệu Liên hệ
Đăng ký trực tuyến
THÔNG BÁO SỰ KIỆN GIẢI THƯỞNG HỎI ĐÁP TRUYỀN THÔNG
3 bài hát được sáng tác
dành cho lễ trao giải
Bài ca Việt Nam - WTO
Thắp sáng thương hiệu Việt
Khoảnh khắc còn mãi
HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN
Chat voi Miss Huong Miss Huong
Chat voi Mr Sau Mr Sau
THỐNG KÊ
Không hội nhập, tăng trưởng âm nặng hơn
Các doanh nghiệp đã xoay xở và thích ứng được với những tác động của hội nhập. Nền kinh tế qua khủng hoảng bộc lộ nhiều điểm yếu: cơ sở hạ tầng kém phát triển, thiếu nhân lực có kỹ năng...
"Dù khủng hoảng nhưng các doanh nghiệp vẫn quyết tâm hội nhập. Điều đó thể hiện rất rõ qua tăng trưởng xuất khẩu, như năm 2007 đạt 21,3%, năm 2008 đạt 29%. Năm 2009 chúng ta âm 9%, người ta đổ tội cho việc chúng ta hội nhập nhưng theo tôi không hội nhập sẽ âm hơn nhiều”. Đó là nhận định của nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan tại Hội thảo Vận hội và thách thức của Việt Nam sau ba năm gia nhập WTO do Ban tổ chức chương trình vinh danh doanh nghiệp hội nhập WTO tổ chức hôm qua (12-1).
Thắng lợi trong xuất khẩu và thu hút vốn FDI
Ông Vũ Khoan cho rằng trong khủng hoảng và hội nhập chúng ta đã nhận thức rõ hơn sự “đỏng đảnh” của thị trường và từ đó ứng phó một cách tương đối thành công với tác động này. Đặc biệt là các doanh nghiệp đã xoay xở và thích ứng được với những tác động của hội nhập. Thông qua thử thách chúng ta đã nhận thức rõ hơn yếu kém của nền kinh tế.
Giáo sư Nguyễn Mại, chuyên gia kinh tế cao cấp, cho rằng điểm sáng sau ba năm gia nhập WTO là việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Theo Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), tính đến năm 2009, cả nước có gần 11.000 dự án FDI đầu tư vào 18/21 ngành với sự tham gia của 89 quốc gia và vùng lãnh thổ. Tổng số vốn đăng ký là 175 tỉ USD, vốn thực hiện là 66 tỉ USD.

Thu hút vốn đầu tư nước ngoài là một điểm sáng khi gia nhập WTO.

Giáo sư Nguyễn Mại dự báo năm 2010, cả vốn thực hiện và chất lượng các dự án FDI vào Việt Nam sẽ được phục hồi và có thể tăng trưởng cao hơn năm 2008. Hiện chênh lệch giữa vốn đăng ký và vốn thực hiện trên 110 tỉ USD. Hy vọng sau khủng hoảng, các nhà đầu tư sẽ thực hiện các dự án đã ký. Chỉ cần 10% số vốn cam kết được giải ngân (khoảng 10 tỉ USD) là mừng lắm rồi.
Chính sách chưa tạo thuận lợi cho doanh nghiệp
Tuy nhiên, ông Vũ Khoan cũng chỉ ra rằng nền kinh tế qua khủng hoảng bộc lộ nhiều điểm yếu: cơ sở hạ tầng kém phát triển, thiếu nhân lực có kỹ năng, cơ chế chính sách còn chưa tạo thuận lợi mà đôi khi khiến doanh nghiệp hết sức bị động... Chính những rào cản này đang đè nặng lên nền kinh tế nước ta. Trong những năm tới, chúng ta còn tham gia ký kết đàm phán nhiều hiệp định kinh tế với Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ... Do vậy, ông Vũ Khoan khuyên các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp cần phải quan tâm để có ứng xử nhanh nhạy với tình hình. Đặc biệt, chính sách ứng phó phải linh hoạt, thông tin phải minh bạch để doanh nghiệp đoán trước được những thay đổi sắp tới mà có kế hoạch kinh doanh phù hợp.
Giáo sư Nguyễn Mại đề xuất nhà nước nên lập nhóm chuyên gia ở các ngành để tham gia các vòng đàm phán tiếp theo như DOHA. Đặc biệt, cần phải làm nhanh hơn việc đề nghị các quốc gia tiếp tục công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường vì có liên quan nhiều đến các vụ kiện bán phá giá. Hiện không chỉ các doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng mà ngay cả cơ quan nhà nước của chúng ta đang rất bị động trong việc kiện các đối tác vi phạm quy định này.