|
|
| Ngành dịch vụ của Việt Nam chưa phát triển rõ ràng |
(NHN) Trong điều kiện nền kinh tế đã hội nhập, xu hướng “dịch vụ hóa” ngày càng phát triển mạnh mẽ ở các nước nhằm tạo ra khả năng cạnh tranh cũng như đẩy mạnh giá trị kinh tế xuất khẩu cho nhiều ngành hàng. Tuy nhiên,ở Việt Nam, ngành dịch vụ dường như vẫn chưa thực sự có những bước đi rõ ràng.
Về vấn đề này, ông Võ Trí Thành – Phó viện trưởng Viện nghiên cứu và quản lý kinh tế trung ương đã có cuộc trao đổi với báo chí bên lề hội thảo “Vận hội và thách thức của Việt Nam sau 3 năm gia nhập WTO” được tổ chức ngày 12/1, tại Hà Nội.
Ông Võ Trí Thành - Phó viện trưởng Viện nghiên cứu và quản lý kinh tế trung ương
Ông đánh giá như thế nào về lợi thế trong lĩnh vực dịch vụ của Việt Nam?
Việt Nam có hai lợi thế rất cơ bản, một là lợi thế người Việt Nam hiểu người Việt Nam. Vì dịch vụ cần giao diện, mà giao diện nói theo nghĩa rộng nhất thì không ai hiểu người Việt Nam hơn người Việt Nam. Ví dụ như ngân hàng HSBC họ có một khẩu hiệu rất hay để minh họa cho điều này “Ngân hàng toàn cầu - am hiểu địa phuơng”.
Lợi thế thứ hai là ở mức xuất phát thấp thì khả năng tạo ra tăng trưởng là rất nhanh. Mà ta biết, so với mức trung bình so với thế giới hay so với Asean thì tỉ lệ dịch vụ trong GDP của Việt Nam là rất thấp, lực lượng lao động làm trong dịch vụ cũng rất thấp.
Ngoài ra còn phải kể đến lợi thế về con người, người Việt Nam nhanh nhạy, truyền thống giao tiếp cẩn trọng, rất tình cảm giữa con người… Nhưng mà để phát huy được các lợi thế đó như thế nào thì đó lại là một câu chuyện.
Ông đánh giá như thế nào về vấn đề thống kê xuất khẩu dịch vụ ở Việt Nam?
Xuất khẩu dịch vụ ở Việt Nam thực ra thống kê không được đầy đủ nhưng nói chung là xuất nhập khẩu dịch vụ của Việt Nam vẫn bị thâm hụt. Ở đây có thể ví dụ như mỗi năm tiền chi phí cho con cái đi học, đi chữa bệnh của người Việt Nam ở nước ngoài cũng hàng tỷ USD. Còn Việt Nam thu được từ dịch vụ nước ngoài như là vận tải hàng không, du lịch… nếu tính ra như thế thì chúng ta vẫn đang phải nhập siêu thương mại dịch vụ.
Tuy nhiên, thống kê như thế rất là khó đầy đủ vì có lĩnh vực coi là nó dịch vụ nhưng đôi khi khó cảm nhận được do phần lớn là bảng thanh toán tiền Việt Nam. Chúng ta đều biết trong dịch vụ nó có phương thức 2, tức là mua tại nước ngoài nhưng chúng ta chỉ nhìn khách du lịch mà thôi, nhưng thật ra có rất nhiều công ty nước ngoài ở Việt Nam được công ty Việt Nam cung cấp dịch vụ. Về bản chất nó đã nằm trong thương mại dịch vụ rồi, nhưng cái này thì hay bị lãng quên, cũng như là nó được thống kê không thật đầy đủ.
Vậy theo ông, tình trạng nhập siêu dịch vụ như vậy có ảnh hưởng lớn tới nền kinh tế ?
Thật ra nó đang phản ánh đúng thực trạng của các nước đang phát triển bởi vì khả năng cạnh tranh của các nước này so với các nước phát triển vẫn đang thua kém. Thứ hai là nếu nhìn vào tỉ lệ nhập siêu trong tổng nhập siêu thì nó cũng chiếm không lớn, hàng năm nước ta nó chiếm khoảng 1 tỷ USD.
Có thể thấy vấn đề thống kê về xuất khẩu dịch vụ vẫn chưa rõ rằng, vậy có cần phải tách bạch với các lĩnh vực khác ?
Có thể nói cả cán cân thanh toán quốc tế Việt Nam, nhìn về góc độ thống kê từ thương mại cho đến kiều hối, các nguồn vốn đầu tư trực tiếp, gián tiếp,… còn rất nhiều vấn đề. Một trong những vấn đề thể hiện trong cán cân thương mại là có sai số rất lớn, nó ảnh hưởng đến việc điều hành kinh tế vĩ mô.
Riêng về mảng thống kê xuất nhập khẩu dịch vụ có thể nói là yếu nhất so với các lĩnh vực khác trong cán cân thanh toán quốc tế, cái này cũng dễ hiểu bởi vì không chỉ Việt Nam mà nói chung thống kê dịch vụ là nó kém xa so với thương mại hàng hóa, kể cả trên thế giới kể cả các nước phát triển. Trong tương lai tôi cũng hi vọng rằng nó sẽ cụ thể hơn.
Ông có thể cho biết chính sách của phát triển dịch vụ hiện nay đã ngang tầm với yêu cầu phát triển của nó chưa?
Bất kỳ thời điểm nào nó cũng chưa ngang tầm. Cái tôi muốn nói đến đầu tiên là ở đây chính là nhận thức từ cấp cao nhất, lãnh đạo, hoạch định chính sách, các doanh nghiệp… cần phải hiểu tốt hơn vai trò, vị trí của dịch vụ trong việc thúc đẩy phát triển cả dưới góc độ cải thiện cuộc sống, và tăng khả năng cạnh tranh và tạo ra giá trị gia tăng. Vấn đề này từ khi ta gia nhập WTO trở lại đây đã tốt hơn rất nhiều.
Cái thứ 2 là, để lĩnh vực dịch vụ đóng góp tốt hơn cho phát triển kinh tế cần phải chú ý đến giáo dục, chất lượng nguồn nhân lực, quy hoạch, cải cách trong nước… Chúng ta phải hiểu rằng đối với thương mại dịch vụ nó liên quan chủ yếu tới những chính sách sau đường biên giới chứ không phải trên đường biên giới. Sau đường biên giới là toàn bộ cải cách trong nước, ví dụ như vấn đề tiêu chuẩn hóa, cấp phép, thủ tục hành chính, quy hoạch…
Theo ông, giải pháp cơ bản hiện nay để thúc đầy ngành dịch vụ là gì?
Theo tôi, nó phụ thuộc vào hai lực lượng: Thứ nhất là thị trường, bởi vì chính quá trình mở cửa, chính quá trình đòi hỏi nâng cao cuộc sống, năng lực cạnh tranh đã đòi hỏi bản thân các doanh nghiệp phải nỗ lực hơn.
Thứ 2 liên quan tới chính sách của nhà nước, đó là cách thức mở cửa hội nhập, cái cải cách hệ thống giáo dục, cải cách hành chính qui hoạch, đặc biệt là phân cấp. Tôi hay nhấn mạnh tới quy hoạch phân cấp vì một trong những lý do dịch vụ cần giao diện, giao diện cần mạng mà mạng liên quan tới đất để đặt địa điểm, mà vấn đề này không phải dễ.
Hiện nay, nhóm ngành có nhiều tiềm năng để phát triển dịch vụ là gì, thưa ông?
Nhìn về lý thuyết thì các nước đang phát triển có hai lĩnh vực có lợi thế cạnh tranh về dịch vụ là: du lịch và xây dựng. Rất nhiều phân mảng của 2 lĩnh vực này cần nhiều lực lượng lao động, mà đó là lợi thế của các nước đang phát triển. Tuy nhiên ở Việt Nam có một số ngành cũng có tốc độ phát triển rất nhanh mặc dù không hẳn đã có lợi thế như nước khác, ví dụ như tài chính – ngân hàng, bán lẻ…
Bởi vậy có thể khẳng định là không hẳn ta kém mà ta không phát triển được. Mà cái quan trọng là phải tăng áp lực cạnh tranh. Vì từ áp lực cạnh tranh ấy cùng với điều kiện kinh doanh được cải thiện sẽ thúc đẩy doanh nghiệp biết phải làm gì để tự nâng cao các dịch vụ.
|
|